Thứ bảy, ngày 20 tháng ba năm 2010

Đổi mới giáo dục tiểu học: ‘Giúp’ nhiều hơn ‘dạy’


Lấy học sinh làm trung tâm là nội dung của phương pháp giáo dục tiểu học mới đang được áp dụng ở nhiều trường tiểu học trong cả nước.

Với sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), tỉnh Bắc Giang đã thí điểm dự án này cách đây 3 năm (2004 - 2007) và Trường tiểu học Tân Mỹ (xã Tân Mỹ, huyện Yên Dũng) là một trong những trường được tỉnh Bắc Giang chọn để đưa phương pháp giáo dục mới này vào áp dụng ngay sau thời gian thí điểm kết thúc (từ năm học 2007- 2008).

Bà Hoàng Thị Minh, Hiệu trưởng TH Tân Mỹ cho biết, kể từ khi áp dụng dự án này thì giáo viên trong trường có thay đổi hẳn về suy nghĩ trong cách giảng dạy. Đặc biệt là tính tự giác trong công việc, thoát ly khỏi sách giáo khoa. “Thay vì phụ thuộc vào sách giáo khoa là bây giờ giáo viên “phụ thuộc” vào học sinh. Trong quá trình giảng dạy, lấy học sinh làm trọng tâm, khơi nguồn kiến thức từ chính bản thân các em. Giáo viên không còn mắng mỏ học sinh, thay vào đó là tìm ra nguyên nhân của vấn đề và giải quyết nó một cách hợp lý”, bà Minh phân tích.

Một ưu điểm của phương pháp dạy học mới này đó là các trường tiểu học có thể giao lưu trao đổi với nhiều nền giáo dục trong và ngoài khu vực (Nhật Bản, Hàn Quốc, Sinhgapo…). Từ sự hỗ trợ của JICA, các giáo viên tình nguyện trẻ của Nhật Bản đã có mặt tại các trường tiểu học ở Bắc Giang để cùng các giáo viên thay đổi phương pháp giảng dạy.

Bà Michiko - giáo viên tình nguyện tại TH Tân Mỹ từ năm học 2008 - 2009 cho biết: “Giáo dục Việt Nam và Nhật Bản không khác nhau hoàn toàn nhưng cũng có những nét riêng. Giáo viên Nhật luôn bận rộn nhưng họ vẫn luôn vui vẻ và hài hước trong mỗi giờ dạy tạo nên không khi học tập khá sôi nổi. Còn ở Việt Nam, tôi thấy có sự nghiêm khắc trong tất cả các giờ giảng”.

Theo www.baodatviet.vn

Nghề báo: Không cần bằng cử nhân báo chí?


“Ở các cơ quan báo chí, họ đòi hỏi kỹ năng, năng khiếu cần thiết để bước chân vào nghề báo chứ không phải cần đến bằng báo chí’ - nhà báo Huỳnh Dũng Nhân nói.

Chương trình đào tạo phải tạo ra nhà báo

“Viết báo và làm báo là hai khái niệm khác nhau. Đặc thù của đào tạo báo chí là đào tạo nghề. Đơn đặt hàng của cơ quan báo chí cho cơ sở đào tạo báo chí là nghề” - nhà báo Huỳnh Dũng Nhân, Phó Chủ tịch Hội Nhà báo TP.HCM khẳng định trong buổi tọa đàm thảo luận về cải thiện chương trình giảng dạy báo chí vào ngày 16/3 tại TP.HCM.

Ông Nhân cho rằng, phải phân biệt giữa đào tạo cử nhân và đào tạo nghề. Các cơ quan báo chí đòi hỏi kỹ năng, năng khiếu cần thiết để bước chân vào nghề báo chứ không cần đến bằng báo chí. Và điểm thực hành khi ra trường nên được xem trọng hơn điểm các môn lý thuyết. Theo ông Nhân, nếu lấy điểm lý thuyết thì có thể toàn sinh viên (SV) giỏi nhưng chưa chắc làm báo được.

Ông dẫn chứng: khi ông còn công tác tại báo Lao Động, có hai phóng viên đoạt giải A báo chí nhưng cả hai đều không xuất thân từ cơ sở đào tạo báo chí. Và ông cho biết, chừng nào trường học còn có quan niệm dạy ra cử nhân chứ không phải dạy nghề, trường sẽ khó đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng báo chí.

Đồng tình với ý kiến trên, nhà báo Trần Trọng Thức, Thư ký Tòa soạn Thời báo Doanh nhân Sài Gòn, cho rằng vấn đề ở các trường là làm sao đảm bảo chất lượng đầu ra. Chương trình đào tạo phải ”tạo ra” được những nhà báo.

Bà Vũ Ngọc Dung, Tổng Biên tập báo Đất Việt kể lại một mẩu chuyện tại tòa soạn. Bà kể: Có lần, thấy một SV đến thực tập, bà hỏi muốn thực tập ở lĩnh vực nào, SV này liền chọn ban Văn hóa-Văn nghệ.

“Ở tờ báo Chính trị Xã hội, tin, bài mảng Văn hóa - Văn nghệ chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ nên nhu cầu không cao. Nếu chọn mảng Kinh tế, tôi đã nhận ngay” - bà Dung cho biết.

Thông thường, SV khi đến các cơ quan báo chí xin thực tập phần lớn nguyện vọng đều mong muốn được bố trí vào ban Xã hội vì kiến thức về một chuyên ngành nào đó hiếm ai có được.

Bà Dung cho rằng nếu phóng viên hay biên tập viên không hiểu, không có kiến thức chuyên sâu ở một lĩnh vực, khó có thể viết được một bài báo thuộc lĩnh vực đó. Vì thế, có những SV không học báo chí nhưng có kiến thức chuyên ngành cụ thể cộng chút kỹ năng làm báo cơ bản đã có thể nhận vào làm.
Biến trường học thành tòa soạn
Để SV báo chí có thể đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng, ông Phan Văn Tú, Phó Chủ tịch thường trực Hội Nhà báo Việt Nam tại tỉnh Đồng Nai đưa ra sáng kiến “biến cơ sở đào tạo báo chí thành một tòa soạn”. Tức là phải có một tờ báo mà ở đó thầy và trò cùng làm. Trong đó, bài viết là sản phẩm của SV. Thông qua tờ báo, SV có cơ hội làm nghề.

Ông Trần Ngọc Châu, Giám đốc kênh FBNC (HTVC) nói SV cuối năm nhất, đầu năm hai buộc phải đi thực tập tại các tòa soạn. Nhà trường đứng ra phối hợp với các cơ quan báo chí, kể cả các báo, đài ở địa phương để có chỗ cho SV thực tập.

Ông Huỳnh Văn Thông, Trưởng khoa Báo chí, ĐH KHXH & NV TP.HCM mong muốn các cơ quan báo chí tạo điều kiện để nhận SV thực tập ở nhiều đợt; tặng nhiều báo cho SV trong khoa để tạo thư viện miễn phí dành cho SV.

Nói đến quy định, quy chế, nhà báo Huỳnh Dũng Nhân cũng cho rằng SV nên được thực hành nhiều hơn nhưng việc này không dễ dàng. “Đi thực tế thì không có tiền, quy định lại không cho thời gian nhiều để thực hành thì làm sao SV cọ xát” - ông Nhân nói.

Ông Trần Ngọc Châu cũng lo ngại việc SV đi thực tập từ sớm có thể gặp khó khăn vì phải xin ý kiến của Bộ GD - ĐT.

Nhiều ý kiến từ các lãnh đạo cơ quan báo chí và giảng viên báo chí cho rằng nên tạo ra “mô hình ngành y” cho các giảng viên báo chí. Với mô hình này, người dạy cũng chính là người làm nghề báo, lưu trú ở các cơ quan báo chí và thời gian về trường sẽ ít hơn thời gian làm nghề.

Theo bà Barbara Rowlands, Chủ nhiệm Bộ môn Viết tạp chí, ĐH City (London), đại diện Hội đồng Anh, ở Anh, các cơ quan kiểm định thường tổ chức diễn đàn và mời biên tập viên, nhà báo đến trường ĐH để gặp gỡ giảng viên và SV. Cứ 2 năm/lần, sẽ có đợt kiểm định chất lượng đào tạo tại các trường. Nếu chương trình giảng dạy không cập nhật kỹ năng mới, chứng chỉ cấp cho khoa sẽ bị rút. Các trường ĐH ở Anh còn có nhiều hoạt động khác như mời các nhà báo đến nói chuyện với SV để hướng dẫn kỹ năng nghề nghiệp hoặc bàn về một vấn đề nào đó có tính thời sự. Họ cũng mời các nhà báo đã nghỉ hưu hay có kinh nghiệm làm việc bán thời gian ở trường để giám sát các dự án, chương trình phát sóng… của SV tại trường. Ngoài ra, các trường ĐH còn biến trường học thành nơi để nhà báo tranh luận về một vấn đề cụ thể có SV cùng tham gia. Một số giảng viên thu xếp thời gian làm việc ở các cơ quan báo chí, mở rộng và duy trì mạng lưới cựu SV… Đặc biệt, chương trình đào tạo chỉ có 3 năm, nhưng SV báo chí có nhiều đợt thực tập ngắn kéo dài khoảng một tuần ở cơ quan báo chí, có khi suốt kì nghỉ của SV.

* Minh Quyên
Theo vietnamnet.vn

Thứ năm, ngày 18 tháng ba năm 2010

Trẻ em chưa thực sự được bảo vệ


TinMoi - Tại sao ngày càng xuất hiện nhiều vụ bạo hành trẻ em nghiêm trọng trong gia đình? Làm cách nào ngăn chặn hoặc giảm tình trạng này? Phóng viên báo điện tử VnMedia đã có cuộc trao đổi với bác sĩ Nguyễn Trọng An - phó cục trưởng Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)

- Thời gian gần đây, các phương tiện truyền thông liên tục phản ánh về các trường hợp trẻ em bị bạo hành. Nguyên nhân nào khiến các vụ việc này có chiều hướng gia tăng?

Nguyên nhân đầu tiên là sự thay đổi mạnh mẽ về kinh tế, dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt, gây ra sự chênh lệch mức sống của các tầng lớp dân cư (giữa thành thị và nông thôn), làm cho dân ở các vùng nghèo di cư. Từ đó, tạo ra sự chênh lệch về cơ hội phát triển của các em bé. Chính vì thế em bé của các gia đình này bị rơi vào hoàn cảnh như phải ở nhà một mình, bố mẹ giao cho người khác quản lý để đi làm, đi kiếm sống, nhiều trẻ đi lang thang…Đây là nguy cơ mà trẻ dễ bị lạm dụng, bị bóc lột, bị xâm hại (cả về thể chất lẫn tinh thần và đặc biệt là bị xâm hại về tình dục)

Nguyên nhân thứ hai là giá trị văn hóa truyền thống hiện nay không được phát huy, hoặc là chưa được phát huy một cách đầy đủ. Chỉ còn một số địa phương, một số vùng, một số gia đình còn giữa được giữ được đạo đức văn hóa truyền thống. Bên cạnh đó, đa số các vùng, nhất là các vùng ven, vùng mới trở thành đô thị có nguy cơ cao vì ở các vùng này đông dân nhập cư, từ các nơi đổ về. Do vậy, nhiều gia đình sống theo hướng tiêu cực, thay đổi về đạo đức. Đạo đức bị đồng tiền hóa, các tệ nạn xã hội bắt đầu gia tăng, các mối quan hệ gia đình ruột thịt trước kia như anh em có trên có dưới, người trên bảo người dưới nghe không còn nữa, anh em đánh nhau, con cái chửi lại bố mẹ chỉ vì kinh tế, vì đất cát,…mất hết thuần phong mỹ tục. Từ đó, tính mạng con người bị coi thường.

Nguyên nhân thứ ba là nguyên nhân trực tiếp, đó là tình hình công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em hiện đang là vấn đề, trẻ em chưa thực sự được bảo vệ, chăm sóc theo đúng nghĩa. Hệ thống luật pháp, chính sách về bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa đầy đủ, đồng bộ; đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực chuyên môn, đặc biệt ở cấp xã; hệ thống dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa được hình thành đầy đủ và chưa đáp ứng được yêu cầu; ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, cha mẹ, giáo viên và công dân chưa tốt; kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc trẻ em của nhiều gia đình và trẻ em chưa đầy đủ; hệ thống thông tin quản lý, cơ sở dữ liệu về bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa đầy đủ thiếu tin cậy, các biện pháp nghiêm cấm, trừng trị hành vi bạo hành trẻ em cũng chưa đủ tính răn đe. Đặc biệt, hệ thống mạng lưới phát hiện, báo cáo, phối hợp phòng chống, ngăn chặn nạn bạo hành trẻ ở cấp cơ sở còn nhiều lỗ hổng, yếu kém.

- Những trẻ bị bạo hành sẽ bị ảnh hưởng như thế nào, thưa ông?

Bạo hành trẻ em không chỉ có bạo hành về thể chất, gần đây xảy ra bạo hành về cả tinh thần, không chỉ đau đớn về thể xác, mà nó gây sang chấn về tâm lý, gây rối loạn về tâm thần của trẻ. Sau này, lớp em bé đó nếu sống không được tư vấn về tâm lý, tình cảm, cải thiện môi trường sống thì các em bé đó rất có nguy cơ bỏ học, rất có nguy cơ tự tử, rất có nguy cơ vi phạm pháp luật, sử dụng ma túy và có nguy cơ gây rối loạn xã hội sau này. Có những di chứng không bộc lộ ra ngay mà sẽ hình thành cách ứng xử sau này của họ với con cái và người khác. Điều đó rất nguy hiểm.

- Xin ông cho biết, khi nạn bạo hành trẻ em xảy ra, ai sẽ phải chịu trách nhiệm đầu tiên?

Trước tiên là trách nhiệm của cha mẹ, gia đình. Còn về góc độ quản lý Nhà nước, theo Chỉ thị 1408/CT-TTg năm 2009 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 1/9/2009, người đứng đầu chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm, sau đó sẽ phân cấp đến các cơ quan khác.

Ngay sau khi phát hiện các vụ bạo hành trẻ nghiêm trọng, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã gửi công văn đến lãnh đạo các địa phương đề nghị phải giải quyết nhanh chóng. Tuy nhiên phải nhìn nhận gần đây nhiều vụ bạo hành trẻ em bị phát hiện, xử lý cũng thể hiện người dân, báo chí và chính quyền các địa phương đã nhận thức và quan tâm đến vấn đề này.

- Nhưng thực tế vẫn chưa thấy một cán bộ, cơ quan nào bị khiển trách hay kỷ luật khi địa phương xảy ra bạo hành trẻ em?

Hiện nay, Cục đang xây dựng chương trình mục tiêu Quốc gia về tăng cường chăm sóc, bảo vệ trẻ em để trình vào tháng 8 tới. Nội dung quy định rõ và cụ thể trách nhiệm các cơ quan, các cấp và sự phối hợp giữa các bên liên quan.

Thực tế, mạng lưới cộng tác viên, cán bộ bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở các địa phương bị thiếu hụt, xáo động do bộ máy này bị tách khỏi Ủy ban dân số, gia đình và trẻ em. Hiện chỉ còn Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em đảm nhận việc này, cán bộ cấp xã chỉ có một người làm đủ việc công tác xã hội, tử tuất, người già, trẻ em,…trong khí đó, trẻ em lại rất đông, chiếm 1/3 dân số và trẻ em cần sự quan tâm nhiều hơn người lớn.
- Hàng năm, Nhà nước vẫn đầu tư vào các chương trình bảo vệ, chăm sóc trẻ em…Vậy tại sao trẻ em vẫn không được bảo vệ?
Hàng năm Nhà nước đều phân bổ ngân sách cho địa phương để thực hiện các chương trình cho trẻ em, nhưng thực tế ngân sách dành cho trẻ em là rất ít. Tại Diễn đàn Quốc gia về trẻ em, một bé gái đã phát biểu: “Sân chơi của chúng cháu ít hơn sân tenis của người lớn”. Điều này làm chúng ta cần phải suy nghĩ.

Bên cạnh đó, các mô hình để giúp đỡ cho trẻ em như nhà tình thương, trung tâm bảo trợ… còn rất ít và số lượng trẻ được bảo trợ cũng rất nhỏ. Hoạt động bảo vệ trẻ em cần có hệ thống dịch vụ của Nhà nước để chủ động tiếp nhận thông tin từ gia đình, cộng đồng và các hướng xử lý. Hiện nay, đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em (18001567) là công cụ rất hữu hiệu dành cho trẻ em. Nhờ đó, nhiều vụ việc xâm hại trẻ em đã được xử lý. Tuy nhiên, hoạt động của đường dây này vẫn còn hạn hẹp, nhiều trẻ em chưa biết đến.

- Theo ông, cần phải làm gì để bảo vệ hiệu quả trẻ khỏi bị bạo hành?

Công tác bảo vệ trẻ em được chia làm 3 cấp độ: Tuyên truyền, phòng ngừa, can thiệp và dịch vụ hỗ trợ. Các cộng tác viên tại địa phương cần phát hiện ra các trường hợp có nguy cơ (gia đình có kinh tế khó khăn, bố mẹ bỏ nhau…) để có những can thiệp kịp thời. Việc phòng ngừa có thể giảm được 80% nguy cơ xảy ra xâm hại trẻ em.

Theo đó, cần phải tăng cường chiến dịch tuyên truyền, không chỉ tuyên truyền đến người dân mà phải tuyên truyền đến các cấp lãnh đạo, những nhà làm luật, người làm chính sách để bổ sung luật pháp chính sách; Tăng cường kiểm tra, giám sát, tăng thẩm quyền, trừng phạt phải đủ răn đe,…

Quan trọng nhất là nhận thức và các biện pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ tại gia đình, cộng đồng. Phải nâng cao năng lực hệ thống bảo vệ trẻ bằng việc xác định rõ vai trò, trách nhiệm các cấp chính quyền, và xây dựng được mạng lưới dự phòng, ngăn chặn hiệu quả nạn bạo hành trẻ em tại địa phương.

Xin cảm ơn ông!


Theo báo cáo của Bộ Công An (12/2009): Số vụ xâm hại tình dục trẻ em có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Trong ba năm (từ 2005 - 2007), đã có 1.520 trẻ em bị xâm hại tình dục, năm 2008 có 1.427 em bị xâm hại, 9 tháng đầu năm 2009 có 813 trẻ em bị xâm hại (22 em bị giết, 246 em bị hiếp dâm, 267 em bị xâm hại tình dục…). Tình trạng trẻ em vi phạm pháp luật vẫn còn diễn biến phức tạp, trong 2 năm 2008-2009 đã xảy ra 5627 vụ trẻ em và vị thành niên vi phạm pháp luật.


Theo vnmedia.vn

Cách nói chuyện “lấy lòng” thầy cô giáo của con


Không phải ông bố bà mẹ nào cũng biết quan tâm đến việc học hành của con cái và biết cách trao đổi với thầy cô để hỗ trợ việc học tập của con em mình được đến nơi đến chốn. Trao đổi và nói chuyện với thầy cô giáo về công việc học tập và sinh hoạt của con khi không có bố mẹ ở bên là một việc làm quan trọng, nó thể hiện tình yêu thương và quan tâm đến con cái.
Chuẩn bị

Khâu chuẩn bị khá quan trọng vì trước khi đến gặp hoặc gọi điện cho thầy cô giáo của con, mẹ phải biết nói những gì, đề cập đến vấn đề gì của con. Mẹ hãy ghi vào giấy các tình huống cần thiết liên quan đến học tập và sinh hoạt của con như quá trình học tập, những điểm yếu kém, những môn cần khắc phục và mục tiêu sắp tới… để không thấy bỡ ngỡ và thiếu sót khi trao đổi với cô giáo.

Chọn thời điểm thích hợp

Chọn thời điểm thích hợp thực sự rất quan trọng khi mẹ quyết định nói chuyện với cô giáo của con. Không phải thời điểm nào hợp với mình cũng sẽ hợp với người khác. Nên tránh gọi điện và đến nhà cô giáo trong những giờ làm việc, giờ ăn cơm. Trước đó mẹ nên gửi cho cô một thư điện tử, bàn về vấn đề học tập của con và muốn có một cuộc nói chuyện tùy vào giờ giấc của cô giáo.

Khi nói chuyện nên bắt đầu vào chủ đề ngay, không kéo dài thời gian làm ảnh hưởng đến thời gian và công việc của cả mẹ và cô giáo. Tôn trọng thời gian của đôi bên sẽ làm cho cuộc nói chuyện được chất lượng hơn.

Biết lắng nghe

Khi trẻ đến tuổi đi học sẽ không ở gần cha mẹ thường xuyên. Người được tiếp xúc với trẻ nhiều hơn và có đánh giá cũng như nhìn nhận về trẻ chính xác hơn là cô giáo và bạn bè của trẻ. Hãy lắng nghe cô giáo nói về quá trình học tập cũng như sinh hoạt của trẻ. Dù những ý kiến đó có thể hơi khác và không được như những gì mẹ mong muốn, mẹ cũng nên lắng nghe và chia sẻ để cả đôi bên cùng tìm ra những cách giải quyết thích hợp nhất.

Trao đổi điểm mấu chốt

Trong cả buổi nói chuyện mẹ không hẳn chỉ biết lắng nghe, sau khi lắng nghe hãy chia sẻ những suy nghĩ, những cảm nhận và tình hình học tập của con cho cô giáo. Mẹ cũng nên nói với cô giáo về tính cách, cá tính và thói quen dù tốt hay xấu của con để cô biết và có những điều chỉnh phù hợp.
Mẹ hãy ghi nhớ những điểm mấu chốt sau cuộc đối thoại để có cách thức dạy và quan tâm đến con cái mình.

Vẫn còn 700.000 trẻ khuyết tật chưa từng đến trường


Hiện cả nước có khoảng 4 triệu người khuyết tật, trong đó có trên 1 triệu trẻ em khuyết tật. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn khoảng 700 nghìn trẻ khuyết tật chưa từng được đến trường và 32,99% trẻ khuyết tật bỏ học.

Con số trên được Ban Chỉ đạo giáo dục trẻ khuyết tật, Bộ GD-ĐT thông báo ngày 18/3, tại Lễ tuyên dương và giao lưu giáo viên giỏi trẻ khuyết tật toàn quốc lần thứ II.

Giải thich vì sao số trẻ khuyết tật chưa được đến trường nhiều như vậy, ông Lê Tiến Thành, Vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học, Phó ban chỉ đạo giáo dục trẻ khuyết tật cho biết: “Trong suốt thời gian dài, hoạt động giáo dục trẻ khuyết tật chưa có sự chỉ đạo đồng bộ ở các cấp các ngành nên việc triển khai ở địa phương còn lúng túng, mang chất tự phát.

Mặc dù giáo dục hòa nhập được xác định là hướng đi chính trong các trường phổ thông nhưng hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất giữa các bộ, ban ngành như chính sách cho học sinh, cho giáo viên.

Bên cạnh đó từ cơ sở giáo dục, chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng còn cho đối tượng trẻ khuyết tật này còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu.

Một số cộng đồng dân cư vẫn chưa tin tưởng vào khả năng học tập và hòa nhập cộng đồng của trẻ khuyết tật. Nhiều người vẫn cho rằng trẻ khuyết tật chỉ nên học ở các trường lớp chuyên biệt, không thể hòa nhập trong hệ thống giáo dục phổ thông và một bộ phận giáo viên, cán bộ quản lí cũng có quan niệm như vậy.
Do vậy, chỉ tiêu giáo dục trẻ khuyết tật trong Chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 xác định đến 2010 đảm bảo 70% trẻ khuyết tật đi học khó có thể đạt được và cần phải kéo dài đến 2015 - ông Thành khẳng định.

  • Tuyên dương 184 giáo viên và cán bộ quản lý trẻ khuyết tật

Sáng nay 18/3, tại Hà Nội, Bộ GD-ĐT đã khen thưởng 184 giáo viên và cán bộ quản lý có thành tích xuất sắc dạy trẻ khuyết tật, trong đó 164 người là nữ và 20 người là nam. Các thầy giáo, cô giáo đã không quản ngại khó khăn vất vả, dành hết tâm huyết, tình thương yêu và tinh thần trách nhiệm của mình cho các em học sinh bị thiệt thòi. Tiêu biểu cho phong trào này là thầy giáo Vũ Xuân Tâm, Trường tiểu học Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội có 16 năm liên tục tham gia công tác về trẻ khuyết tật, là thành viên sang lập Hội cứu trợ trẻ em tàn tật Hà Nội; cô giáo Nguyễn Thị Đậm, Trường tiểu học Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương 14 năm dạy trẻ khuyết tật, có học sinh khiếm thị là Phạm Thị Thu Hà tham gia Para Game 22 đạt huy chương đồng môn bơi lội; cô giáo Nguyễn Thị Thúy Hòa, Trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội có 22 năm dạy trẻ khiếm thị… Đặc biệt, cô giáo Đinh Thị Lan, Trường tiểu học Cao Xanh, thành phố Hạ Long, Quảng Ninh có học sinh Phạm Thị Hoài Thương, là trẻ khuyết tật vận động, vào lớp 3 khi đã 14 tuổi. Tầm vóc bé Thương chỉ nhỏ như đứa trẻ lên 6 tuổi, dị tật toàn thân, vận động rất nặng nề do di chứng chất độc màu da cam để lại, không thể tự làm gì được chỉ nằm và ngồi. Mọi sinh hoạt cá nhân phải dựa vào người mẹ và ông bà nội đã già yếu. Hoàn cảnh gia đình lại rất khó khăn, bố mất sớm, mẹ lại không có công ăn việc làm, trong khi đó Thương lại có em trai cũng tật nguyền như em. Bằng cả tình thương yêu và tinh thần trách nhiệm, cô giáo Lan đã dày công chăm sóc, dạy dỗ em Thương đạt kết quả đáng khâm phục: Giải nhất cuộc thi chữ đẹp cấp trường, giải đặc biệt trong hội thi “Viết chữ và trình bày đẹp cấp thành phố”.

Hồng Hạnh

Theo dantri.com.vn


Thứ tư, ngày 17 tháng ba năm 2010

TPHCM: Thực hiện thí điểm chương trình phổ thông quốc tế Cambridge


Ngày 16/3, Trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm (Q.1, TPHCM) khai giảng chương trình Tiểu học quốc tế Cambridge. Đây là nơi đầu tiên thực hiện thí điểm chương trình phổ thông quốc tế Cambridge.

Tại buổi khai giảng vào sáng ngày 16/3, bà Lê Thị Ngọc Điệp, hiệu trưởng Trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, cho biết có tổng cộng 62 học sinh tham gia chương trình tiểu học quốc tế Cambrige sau khi đã qua kiểm tra trình độ tiếng Anh.

Theo quy định là học sinh từ 5 tuổi đến 11 tuổi có thể đăng kí học nhưng chiếm đa số trong lớp thí điểm là các em học lớp 1 của trường. Học sinh được chia làm ba lớp 1, học 2 ngày trong tuần, buổi sáng từ 9 giờ 10 đến 11 giờ 35, buổi chiều từ 14 giờ 20 đến 16 giờ 45.

Việc giảng dạy ba lớp 1 này do một giáo viên người nước ngoài đảm nhiệm. Đây là giáo viên quốc tế của CIE. Tuy nhiên, trong 4 tuần đầu tiên, sẽ có giáo viên người Việt Nam làm trợ giảng vì các em chủ yếu là học sinh đang học lớp 1. Sau thời gian này, học sinh sẽ học hoàn toàn bằng tiếng Anh. Cứ sau 3 tháng, sẽ có bài kiểm tra định kỳ để đo mức tiến bộ của học sinh.

Bà Nguyễn Phương Lan - đại diện của Hội đồng Khảo thí quốc tế thuộc đại học Cambridge tại Việt Nam cho biết nếu học sinh nào không đạt yêu cầu thì sẽ sắp xếp thời gian để phụ đạo thêm cho đến khi các em tiến bộ đồng đều với nhau. Chương trình sẽ thành lập Câu lạc bộ phát triển tài năng Cambridge để phát triển kỹ năng sống cho học sinh. Mức học phí là 150 USD/tháng và đóng 3 tháng một lần.

Được biết, theo dự kiến tại TPHCM sẽ có 36 trường (từ tiểu học đến THPT) dạy chương trình phổ thông quốc tế Cambridge , trong đó có 31 trường công lập và 5 trường dân lập.

Chương trình phổ thông quốc tế Cambridge do Hội đồng Khảo thí quốc tế ĐH Cambridge - CIE (Anh) cung cấp. Song song với việc học chương trình phổ thông của Bộ GD-ĐT, những học sinh đăng kí chương trình này sẽ được học 3 môn chính là: Toán, tiếng Anh, Khoa học, có thể thêm môn bổ trợ là Công nghệ thông tin. Việc dạy và học hoàn toàn bằng tiếng Anh. Sau khi hoàn thành, học sinh được cấp Chứng chỉ quốc tế Cambridge có giá trị toàn cầu. Đến nay hơn 150 nước trên thế giới giảng dạy chương trình này. Tại Việt Nam, vào năm 2009, Hà Nội là nơi đầu tiên thực hiện thí điểm chương trình phổ thông quốc tế Cambridge ở một số trường như Trường tiểu học Đoàn Thị Điểm, tiểu học Thái Thịnh… Còn tại TPHCM, sau Trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ là Trường THCS Nguyễn Du (Q.1) thực hiện thí điểm chương trình.

Hiếu Hiền

Theo dantri.com.vn

Thứ ba, ngày 23 tháng hai năm 2010

“Sốt” trường mẫu giáo dành cho con nhà giàu

Hiện tượng trẻ em được sinh ra tăng đột biến vào những năm được coi là may mắn đang tạo nên “cơn sốt” giáo dục ở bậc mầm non, mẫu giáo và là nguyên nhân khiến lệ phí nhập học trở thành nỗi ám ảnh của các bậc phụ huynh trẻ tuổi ở Trung Quốc.

Tại đất nước đông dân nhất hành tinh này, sự cạnh tranh theo nghĩa đen bắt đầu từ những ngày đầu tiên trong cuộc đời mỗi người. Các bậc phụ huynh ở Trung Quốc không muốn con mình bị bỏ lại phía sau, do đó họ chạy đua với nhau để đưa được con họ được vào học những trường mẫu giáo tốt nhất.


Nhu cầu đối với nền giáo dục mầm non đã tạo ra “mảnh đất” béo bở cho các nhà trẻ mẫu giáo “giá cao” mọc lên. Theo Song Jinzhi, hiệu trưởng Trường mẫu giáo Oriental Cambridge ở Bắc Kinh, tại các trường mẫu giáo kiểu này học phí cao hơn 1/3 so với các nhà trẻ mẫu giáo thông thường.


Trường Quốc tế Montessori ở Bắc Kinh, nơi tiếp nhận học sinh từ một tuổi rưỡi cho đến 12 tuổi là một trong những trường đắt nhất thành phố. Trường này thu mỗi học sinh từ 80.000 NDT đến 150.000 NDT/năm (khoảng 219 - 412 triệu đồng), phụ thuộc vào cấp học của học sinh. Jason Kong, giám đốc điều hành của trường cho biết trong vài năm gần đây, học phí đã tăng lên nhiều.


Giáo viên trường mẫu giáo thuộc hệ thống Montessori đang dạy học sinh cách nhận ra những người làm các nghề khác nhau. (Ảnh: China Daily)

Các trường thuộc hệ thống Montessori được thành lập khắp nơi trên thế giới, hoạt động theo phương pháp Montessori, một phương pháp dựa trên nghiên cứu của chuyên gia giáo dục người Ý thế kỉ 20 Maria Montessori. Phương pháp này nhấn mạnh sáng kiến và khuyến khích học sinh học tập theo sở thích của các em thay vì học theo những chương trình bắt buộc do các giáo viên đặt ra.


Theo Danny Ho, giám đốc điều hành của Viện giảng dạy Montessori Quốc tế, các bậc phụ huynh Trung Quốc không hề nản lòng trước chi phí đắt đỏ của những trường mẫu giáo mang thương hiệu quốc tế như các trường Montessori.

“Nhiều bậc phụ huynh đến gặp tôi và nói rằng họ muốn con họ được vào học tại đó”, ông Ho cho biết. “Vì vậy chúng tôi đang lên kế hoạch mở một cơ sở mới tại quận Chaoyang vào tháng 9 năm nay ngoài ba trường hiện tại đang hoạt động”.


Tại ba cơ sở, trường Montessori đang có gần 300 học sinh. Hầu hết phụ huynh của trường đều đang làm việc cho các công ty nước ngoài hoặc các đại sứ quán.


Tuy nhiên, Song Jinzhi, hiệu trưởng của Trường mẫu giáo Oriental Cambridge cho biết một số trường Montessori ở Bắc Kinh đang thu học phí cao quá mức.


“Một số trường tuyên bố họ sử dụng các phương pháp Montessori. Nhưng họ đang thu số tiền học phí mà họ không xứng đáng với nó”, Song Jinzhi khẳng định.


Liang Zhishen, một giáo sư chuyên về giáo dục mầm non tại Trường đại học Bắc Kinh cho biết các bậc phụ huynh không nên nghĩ rằng các trường Montessori là tốt nhất.


“Các trường mẫu giáo Montessori thường đắt đỏ hơn các trường mẫu giáo truyền thống vì họ phải mua các thiết bị đặc biệt và đào tạo giáo viên của họ thường xuyên”, giáo sư Liang nói. “Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là tất cả các trường Montessori có thể làm theo đúng như thương hiệu của họ”.


Theo tờ Beijing Daily, trong số 1.266 trường mẫu giáo tại Bắc Kinh, có 340 cơ sở thuộc sở hữu tư nhân, một số khác do liên kết hoặc được nhận trợ cấp từ các tổ chức chính phủ, các công ty. Các trường mẫu giáo bình thường cũng đang tăng học phí, đặc biệt là những trường mẫu giáo công lập nổi tiếng.


Jiang Zhuoyan, một bà mẹ trẻ ở Bắc Kinh bắt đầu gửi cậu con trai của mình vào học một trong những nhà trẻ tốt nhất tại đây từ năm 2005. Con trai của Jiang học xong mẫu giáo trong năm 2008 và tiêu tốn tổng cộng 2.000 NDT (khoảng 5,4 triệu đồng). Tuy nhiên, hiện tại “chi phí đã tăng gấp 10 lần”, Jiang cho biết.


“Hiện tại, học phí mẫu giáo dễ có thể ở mức 30.000 NDT/năm” (khoảng 82 triệu đồng), Jiang nói.


“Các trường mẫu giáo còn đắt hơn cả các trường đại học”, một bậc phụ huynh có nickname Metallica than thở trên một diễn đàn trực tuyến.


Việc học phí mẫu giáo ngày càng tăng có liên quan đến sự “bùng nổ” số trẻ em được sinh ra trong giai đoạn 2006 - 2008, tờ Beijing Daily khẳng định.


Để có được một ngày sinh tốt đẹp cho con mình, nhiều bậc phụ huynh đã cố sinh con vào năm 2007 (năm Heo vàng trong 12 con giáp, được xem là năm may mắn đặc biệt) và năm 2008 (cũng được xem là năm may mắn vì năm này, Thế vận hội Olympic được tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc). Kết quả là chỉ tính riêng Bắc Kinh, có 400.000 trẻ em được sinh ra trong năm 2006, 2007 và 2008. Trong khi hiện tại các trường mẫu giáo trong thành phố chỉ đáp ứng được 230.000 em.

Võ Hiền
Theo China Daily

Theo dantri.com.vn